Phân tích lý tưởng sống của thanh niên qua bài thơ Từ ấy

Nhằm giúp các bạn học sinh có nhiều kiến thức và nắm vững nội dung bài học, bài viết dưới đây chúng minh gửi đến bạn đọc bài viết Phân tích lý tưởng sống của thanh niên qua bài thơ Từ ấy. Cùng tham khảo bài viết của chúng mình nhé.


1. Dàn ý Phân tích lý tưởng sống của thanh niên qua bài thơ Từ ấy:

1.1. Mở bài

Giới thiệu tác giả Tố Hữu, bài thơ Tú A và lí tưởng sống được thể hiện qua bài thơ.

1.2. Thân bài:

a. Phân tích bài thơ Từ ấy

Khổ thơ thứ nhất: sự giác ngộ lý tưởng cách mạng của tác giả khi được ánh sáng của Đảng và Nhà nước soi rọi. Thể hiện niềm vui sướng, hạnh phúc tột độ khi được đứng trong hàng ngũ vinh dự của Đảng; chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng cao đẹp.

Khổ thơ thứ hai: tác giả thể hiện sự gắn bó bền chặt với cuộc đời, với những đau khổ của thế giới bên ngoài để cùng nhau góp sức tạo nên khối đại đoàn kết dân tộc vô cùng bền chặt. Mạnh mẽ, bền bỉ.

Khổ thơ cuối: tự nhận mình có mối quan hệ mật thiết với những người lưu lạc khắp mọi miền đất nước, nhưng bản thân cũng bơ vơ, bôn ba khắp nơi.

Tư tưởng của một người hiền lành yêu nước, hướng về quần chúng, hướng về mọi người, luôn khát vọng sống, chiến đấu vì mọi người và bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc.

b. Lý tưởng sống của thanh niên hiện nay

Hôm nay chúng tôi - những người trẻ đang sống giữa một đất nước thanh bình, một thế hệ không có chiến tranh.

Để tiếp nối lý tưởng, truyền thống của cha ông, chúng ta phải cố gắng học tập, rèn luyện mình cho tương xứng với những thành quả đã được kế thừa.

Mỗi thanh niên hãy sống có suy nghĩ, có lý tưởng, hướng thiện, thương yêu, đoàn kết với mọi người, sẵn sàng giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn, hoạn nạn.

1.3. Kết luận:

Khai quát giá trị nội dung, kĩ thuật của tác phẩm và liên hệ với bản thân.

2. Phân tích lý tưởng sống của thanh niên qua bài thơ Từ ấy hay nhất:

Trong nền văn học Việt Nam, Tố Hữu được coi là “ngọn cờ đầu của nền thơ ca cách mạng”. Từ một thanh niên trí thức tiểu tư sản, được giác ngộ lý tưởng, Tố Hữu trở thành người chiến sĩ cộng sản. Thơ Tố Hữu gắn liền với đời sống cách mạng, chính trị của đất nước. Tác phẩm chính: Từ ấy, Việt Bắc, Gió thoảng, Ra trận, Mùi và hoa,…

Từ đó (1937 - 1946) là cơn say thơ đầu tiên của Tố Hữu. Hồ sơ gồm 3 phần: Lửa, Xiềng xích và Giải phóng. Bài thơ “Từ ấy” là bài thơ có ý nghĩa mở đầu, có ý nghĩa như lời tuyên ngôn về lẽ sống của người chiến sĩ cách mạng cũng như lời tuyên bố nghệ thuật của nhà thơ. Bài thơ là ước nguyện của một người thanh niên yêu nước: say sưa với niềm vui, say sưa nói với lòng căm thù, những nhận thức mới về ý nghĩa cuộc đời, sự thay đổi sâu sắc trong tình cảm, v.v.

Diễn biến tâm trạng của nhà thơ qua ba khổ thơ: Niềm vui sướng, ngây ngất khi gặp lí tưởng (khối 1); những nhận thức mới về ý nghĩa cuộc sống (câu 2); chuyển biến tình cảm sâu sắc.

Sự vận động tâm trạng của nhà thơ được thể hiện sinh động nhờ những hình ảnh trong sáng, cách gieo vần giàu sức gợi và ngôn ngữ nhạc điệu nhẹ nhàng.

Hai câu thơ đầu khổ thơ 1 được viết theo thể tự sự, nhà thơ kể lại một kỉ niệm khó quên trong đời:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim

Lời ấy là ngọn lửa thời gian, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng và đời thơ Tố Hữu. Lúc đó nhà thơ mới 18 tuổi, sinh hoạt trong Đoàn Thanh niên Cộng sản Huế, giác ngộ lý tưởng cộng sản và được kết nạp Đảng. Bằng những hình ảnh ẩn dụ: nắng hè, mặt trời chân lí, cháy xuyên tim, Tố Hữu khẳng định lí tưởng cách mạng như nguồn sáng mới soi sáng tâm hồn nhà thơ. Nguồn sáng ấy không phải là ánh thu vàng dịu dàng hay ánh xuân dịu dàng mà là ánh sáng rực rỡ của một ngày hè rực nắng. Hơn nữa, nguồn sáng đó chính là Mặt trời, và Mặt trời phi thường, Mặt trời chân lý - một sự liên tưởng sáng tạo giữa hình ảnh và ý nghĩa. Mặt trời của thiên nhiên đánh lừa thế gian bằng ánh sáng, hơi ấm và sự sống, Đảng còn là nguồn sáng diệu kỳ tỏa ra những người nghĩ đúng, làm đúng, báo hiệu những ngọn gió lành cho đời. cuộc sống. Một cách gọi lý tưởng như vậy có thể thể hiện sự tôn trọng và tình cảm. Ngoài ra, các động từ “ngăn chặn”, (chỉ ánh sáng phát ra xung đột), “tỏa sáng” (ánh sáng có sức xuyên thấu) càng nhấn mạnh ánh sáng của lý tưởng xua tan hoàn toàn sương mù của ý thức. Giai cấp tiểu tư sản sản sinh và mở ra trong tâm hồn nhà thơ một chân trời nhận thức, tư tưởng và tình cảm mới.

Ở hai truyện sau, bút pháp trữ tình lãng mạn cùng những hình ảnh so sánh đã đặc tả niềm vui vô hạn của nhà thơ trong buổi sáng bắt đầu với lí tưởng cộng sản. Đó là một thế giới tràn đầy sức sống với hương thơm của hoa, vẻ đẹp xanh tươi của cây cối, tiếng chim hót rộn ràng. Đối với vườn hoa ấy, còn gì quý hơn ánh sáng mặt trời? Đối với tâm hồn của một thanh niên đang “thì thầm kiếm bao đời nay” còn gì quý hơn có một lý tưởng như có hoa lá đón ánh nắng, chính lý tưởng cộng sản đã làm cho tâm hồn con người tràn đầy sức sống. và niềm đam mê cuộc sống làm cho cuộc sống của mọi người có ý nghĩa hơn. Tố Hữu là nhà thơ nên với vẻ đẹp và sức sống mới của tâm hồn cũng chính là vẻ đẹp và sức sống mới của hồn thơ. Cách mạng không đối lập với nghệ thuật mà đã khơi dậy sức sống, trả lại nguồn cảm hứng sáng tạo mới cho hồn thơ.

Ở khổ thơ thứ hai, trong quan niệm về lẽ sống, giai cấp tư sản và tiểu tư sản mang danh nghĩa cái tôi cá nhân cao độ. Khi giác ngộ lý tưởng của mình, Tố Hữu đã xác định quan niệm mới về lẽ sống và sự gắn bó hài hòa giữa cái “tôi” cá nhân với cái “tôi” chung của mọi người. Với động từ “buộc”, câu 1 là một cách nói quá thể hiện ý thức tự nguyện sâu sắc và quyết tâm cao độ của Tố Hữu vượt qua giới hạn của cái “tôi” cá nhân để sống chan hòa với mọi người. "trăm nơi" là một biểu hiện cho những người sống ở khắp mọi nơi). Với từ “bao trùm” ở câu 2, có thể liên tưởng tâm hồn nhà thơ đang căng tràn sức sống, tạo nên khả năng đồng cảm sâu sắc với hoàn cảnh của từng con người cụ thể.

Hai câu thơ sau cho thấy tình yêu thương con người của Tố Hữu không phải là tình cảm thông thường mà là tình bạn giai cấp. Câu 3 khẳng định trong mối quan hệ với mọi người nói chung, nhà thơ đặc biệt quan tâm đến quần chúng lao động. Ở câu 4, “khối đời” là hình ảnh ẩn dụ chỉ đông đảo những người cùng cảnh ngộ trong cuộc sống, đoàn kết chặt chẽ để cùng phấn đấu vì một mục đích chung. Có thể hiểu: khi cái “tôi” hài hòa với cái “tôi”, khi cá nhân hòa vào tập thể có cùng lý tưởng thì sức mạnh của mỗi người sẽ được hiện thực hóa gấp đôi.

Tóm lại, Tố Hữu đặt mình giữa cuộc đời và trong môi trường rộng lớn của quần chúng lao động, ở đó Tố Hữu tìm thấy niềm vui và sức mạnh mới không chỉ với nhận thức mà còn với tình cảm, với hiện thực. sự đồng cảm của những trái tim. Qua đó, Tố Hữu cũng khẳng định mối liên hệ sâu sắc giữa văn học với đời sống mà chủ yếu là đời sống của quần chúng nhân dân.

Trước khi giác ngộ lý tưởng, Tố Hữu là một thanh niên tiểu tư sản. Lý tưởng cộng sản không chỉ giúp nhà thơ sống một cuộc đời mới, mà còn giúp nhà thơ vượt qua những tình cảm ích kỷ, hão huyền của tiểu tư sản để có tình bạn giai cấp với quần chúng lao động. Hơn nữa, đó là một mối tình. Điệp từ “là” cùng với các từ “con”, “em”, “anh” và từ số “nghìn” (biểu thị số lượng rất lớn) nhấn mạnh, khẳng định tình cảm gia đình đầm ấm, gần gũi, cho thấy nhà thơ đã cảm thấy sâu sắc mình là một thành viên trong đại gia đình của quần chúng lao động. Sự đồng cảm, xót thương của nhà thơ cũng rất xúc động và chân thành khi nói về những “kiếp tinh” (những người bất hạnh, lao động vất vả, thường xuyên dầm mưa dãi nắng) để kiếm tiền. sống) những đứa trẻ “không mảnh vải che thân, cù bơ” (những đứa trẻ không chốn dung thân, lang thang, phiêu bạt). Qua những câu thơ đó, người đọc thấy được lòng căm thù của nhà thơ đối với những bất công, ngang trái của cuộc sống cũ. Chính vì những mảnh đời và những đứa con ấy mà người thanh niên Tố Hữu đã hăng hái hoạt động cách mạng, và họ cũng trở thành đối tượng sáng tác chính của nhà thơ (cô gái giang hồ trong Bài ca non sông). Hương; cậu bé trong Go, ông già nghèo trong Old Servant; em bé bán bánh trong Tiếng gọi đêm,...).

Đến đây, có thể thấy, về mặt cảm nhận và sáng tác, bài thơ là bản tuyên ngôn cho tập Từ nói riêng và cho toàn bộ tác phẩm của Tố Hữu nói chung. Cần nói rõ: đó là quan điểm của giai cấp vô sản, với nội dung quan trọng là nhận thức sâu sắc về mối quan hệ giữa cá nhân với quần chúng lao động và nhân loại cần cù.

Từ đó, ông là tâm nguyện của người thanh niên yêu nước giác ngộ và say mê lý tưởng cách mạng. Sự vận động tâm trạng của nhà thơ được thể hiện bằng những hình ảnh trong sáng, các biện pháp tu từ và ngôn ngữ nhạc điệu nhẹ nhàng. Từ đó đánh dấu một thời điểm quan trọng trong cuộc đời Tố Hữu và trong sự nghiệp thơ ca của ông. Đoạn thơ liên khúc lôi cuốn người đọc nhiều thế hệ.

3. Phân tích lý tưởng sống của thanh niên qua bài thơ Từ ấy:

Tố Hữu vừa là một nhà cách mạng tình cảm, một Đảng viên ưu tú, vừa là một nhà thơ cách mạng tiêu biểu của nhân dân trong những năm kháng chiến chống Pháp. Thơ ông giản dị nhưng nồng nàn tinh thần cách mạng và lòng tự hào dân tộc. Bài thơ “Từ ấy” trong tập thơ cùng tên xuất bản năm 1938 đã thể hiện rõ lý tưởng Đảng cao cả của người thanh niên trong lòng.

Người thanh niên này đã giác ngộ lý tưởng của Đảng từ rất sớm, năm 18 tuổi anh được kết nạp Đảng, với độ tuổi mang trong mình nhiều nhiệt huyết và dũng khí của tuổi trẻ, anh đã đón nhận ánh sáng soi đường. cuộc sống như nhận được ánh sáng của các vị thần:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim

“Từ” ở đây là từ khi ánh sáng cách mạng đến với nhân dân, xua tan mọi sương mù chính trị trước đó. Từ đây, nhân dân đã hiểu về cách mạng, tìm được chỗ dựa tinh thần để tin tưởng vào công cuộc giải phóng dân tộc, sống trong khí thế chiến đấu của thời đại “vì nước quên mình”. Ánh sáng ấy bắt nguồn từ Mặt trời Chân lý là Đảng, Mặt trời của giai cấp vô sản, Mặt trời muôn đời của nhân dân, Mặt trời rực cháy trong nắng hè ấm áp quyết thắng. Trong trái tim người thanh niên ấy, điều duy nhất tràn đầy sức sống chính là lý tưởng của Đảng, lý tưởng ấy là động lực, niềm tin để anh nghiệm đời, yêu đời hơn, để rồi:

Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim...

Chắc hẳn lúc này, trái tim các bạn trẻ đang rạo rực những cảm xúc mới, xanh tươi, thơm ngát và rộn ràng. Đâu rồi nỗi u uất của lớp thanh niên trí thức của thời đại loay hoay tìm lối đi đúng đắn nữa, mà chỉ còn một tâm hồn xao xuyến với những cảm xúc yêu đời, hạnh phúc đắm chìm trong ánh sáng của Đảng.

Ánh sáng ấy đã khiến anh thanh niên có những suy nghĩ cao đẹp, đó là lí tưởng sống cao đẹp, sống lớn với tình cảm lớn:

Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời

Từ "lực lượng" được sử dụng thực tế. Có thể sợi dây liên kết giữa người với người bây giờ là tình đồng chí Đảng của cách mạng, tâm hồn con người không còn thấy sự ích kỷ cá nhân mà hoàn toàn được “phủ sóng” rộng rãi khắp thế giới. khắp nơi sống chan hòa, thương yêu, đoàn kết để “khởi kiện quần chúng”. Đảng Cộng sản là khối đoàn kết của giai cấp vô sản, là lý tưởng cao đẹp của các sĩ phu yêu nước, được giác ngộ điều này, người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi đã tự coi mình là:

Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm, cù bất cù bơ...

Ở khổ thơ cuối, ta nhận ra sự bác bỏ sự phân biệt giai cấp trong một tâm hồn chan chứa tình cảm. Các từ: “con”, “em”, “hắn” được so sánh rất thân mật, phá bỏ rào cản giai cấp. Dưới sự đùm bọc của Đảng, đồng bào là anh em trong cùng một gia đình, bất kể ai cũng phải thương yêu đùm bọc, chăm sóc lẫn nhau, thậm chí không ngại hy sinh vì cộng đồng dân tộc.

Giấc ngủ trưa đầy ắp những lời tâm tình tha thiết với khí thế rộn ràng, trẻ trung và lí tưởng như ngọn lửa trong lòng người cộng sản trẻ tuổi. Người thanh niên ấy từ nay đã hiểu hết ánh sáng cao quý mà Đảng muốn truyền tải, anh đã coi mình là người của toàn dân, coi đồng bào là máu thịt, coi như giai cấp đó không còn tồn tại trên đời. cái tồn tại duy nhất là lý tưởng sống cao đẹp, sống lớn vì cộng đồng dân tộc. Với trái tim tràn đầy nhiệt huyết và nghị lực bù lại khát vọng được sống hết mình vì nghĩa thủy chung như vậy, có lẽ cái chết đối với những người thanh niên ấy nhẹ tựa lông hồng khi tâm hồn họ bị trói buộc với nhân dân, buộc phải đi theo cách mạng, hy sinh cho tổ quốc là niềm tự hào và lẽ sống đối với họ. Lý tưởng cao đẹp ấy đã kết liễu tinh thần tuổi trẻ thời chiến, dồn hết tinh hoa, trí tuệ của mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và là niềm tự hào muôn đời cho thế hệ mai sau.

Lý tưởng sống của thanh niên là cao cả, vĩ đại, là lý tưởng bất diệt và đây chính là sức mạnh cốt lõi trong cuộc đấu tranh chống cái ác giữa ta và địch. Với những chàng thanh niên đầy lý tưởng như vậy, lý tưởng của cả dân tộc ta rực rỡ như mặt trời, đánh tan mọi bóng tối của quân xâm lược.

    5 / 5 ( 1 bình chọn )