Phân tích Hiền tài là nguyên khí của quốc gia chọn lọc siêu hay

Xưa nay các vị vua anh minh đều luôn chú trọng việc đào tạo, rèn dũa người tài phục sự cho đất nước, bởi hơn ai hết họ hiểu rõ vai trò của người tài trong đất nước như thế nào? hãy cùng chúng tôi phân tích bài Hiền tài là nguyên khí của quốc gia để thấy rõ điều đó nhé

1. Dàn ý phân tích Hiền tài là nguyên khí của quốc gia chi tiết nhất: 

Mở bài: giới thiệu tác giả tác phẩm

Thân bài:

* Vai trò quan trọng của hiền tài đối với mỗi quốc gia:

- “Hiền tài”: người vừa học cao, vừa có tài, có đức.

- “Nguyên khí”: là nguyên tắc, có vai trò cơ bản đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi sự vật.

→ Từ đó có thể thấy, người có tài, có học, có đức là nguyên tắc đầu tiên tạo nên sự tồn tại và phát triển của đất nước và xã hội.

→ Hiền tài luôn có vai trò quan trọng đối với mỗi quốc gia, có ảnh hưởng to lớn và quan hệ sâu sắc đến sự hưng thịnh của mỗi quốc gia, đất nước, dân tộc.

*Những việc làm để khuyến khích người tài:

- Việc các bậc minh vương đã làm: khen ngợi, xướng tên, ghi tên lên bảng vàng, phong tước, ban yến tiệc,...

→ Những hành động đó là không đủ

Biện pháp lâu dài cần làm là khắc bia Tiến sĩ.

*Ý nghĩa của việc khắc tên bia tiến sĩ:

- Khuyến khích nhân tài trong dân, trong nước,

- Giúp ngăn chặn cái xấu, cái ác trong nhân dân.

- Góp phần to lớn vào sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, phát triển bền vững, lâu dài.

*Bài học lịch sử rút ra:

- Ở thời đại nào cũng vậy, hiền tài luôn là “nguyên khí của quốc gia” nên phải trọng người hiền tài.

- Thể hiện rõ nét và sâu sắc trong quan niệm giáo dục của đất nước và của dân tộc ta là không ngừng phát triển giáo dục, coi trọng nhân tài.

Kết bài: đánh giá lại giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật

2. Những bài phân tích Hiền tài là nguyên khí của quốc gia hay nhất:

2.1. Bài mẫu 1- Những bài phân tích Hiền tài là nguyên khí của quốc gia hay nhất:

Vị vua anh minh, tài giỏi của dân tộc - Nguyễn Huệ - từng nói: “Dựng nước lấy học làm đầu, muốn trị nước phải lấy hiền tài làm gốc”. Tương tự Nguyễn Huệ là Mặc Tự. Người khẳng định: “Người tài càng nhiều thì nước càng giàu”. Không phải tự nhiên mà các vua quan các triều đại trước lại đưa ra nhận định này, mà vì đó là nhân tố cốt lõi trong quá trình dựng nước và giữ nước nên họ đúc kết. 

Tuy có nhiều người cùng quan điểm với Mặc Tự và Nguyễn Huệ nhưng khi nói đến vấn đề này, chúng ta không thể không nhắc đến Trần Nhân Tông với câu nói: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Tóm tắt vừa hay vừa rõ ràng, gom góp đủ ý của người đi trước. Qua đó, chúng ta thấy rõ hơn tầm quan trọng của người hiền tài đối với mỗi quốc gia, dân tộc.

Trước hết cần làm rõ khái niệm “hiền tài” nghĩa là gì? Hiền có nghĩa là người đức hạnh, người có đạo đức và lương thiện. Nhân tài ở đây là tài năng, phẩm chất, nhân cách của một con người. Vì vậy, có thể suy ra, hiền nhân là người vừa có tài, vừa có đức như triết lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Họ là những người có phẩm chất cao quý, có bản lĩnh, tinh thông, được ghi nhận và cống hiến cho đất nước một cách trung thành, yêu nước, thương dân.

Vì sao Trần Nhân Tông nói “Hiền nhân là cội nguồn nguyên khí của quốc gia”? Nguyên tắc là sức mạnh tiềm ẩn, sức mạnh ẩn sâu bên trong đất nước giúp đất nước phồn vinh sánh vai với các cường quốc năm châu. Nhân tài là yếu tố quan trọng để thực hiện sứ mệnh đó.

Nhìn lại một thời kỳ rực rỡ của lịch sử dân tộc với quá trình dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm, chúng ta có thể khẳng định rằng câu nói của Trần Nhân Tông là hoàn toàn chính xác. Các vị vua như Quang Trung, Lý Thái Tổ, Lê Lợi đều là những tấm gương rõ ràng, thuyết phục về việc dùng hiền, tài, đức khi trị nước.

Những người như họ đã đóng góp cho nền độc lập và sự phát triển của đất nước chúng ta trong thời gian đó. Nhưng không chỉ những người đứng đầu đất nước mới có tài, ta có thể thấy ở các vị tướng trong triều, họ cũng có những đóng góp đáng kể trong công cuộc bảo vệ đất nước.

Những ví dụ tiêu biểu có thể kể đến như: Lý Thường Kiệt - người đầu tiên đem quân bắc phạt - hay Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị tướng tài ba nhất trong lịch sử Việt Nam. Đó là nhờ sự có mặt của ông mà chúng ta có ngày nay.

Gác lại cái nhìn về lịch sử, hãy nhìn sâu vào hiện tại, Đảng và Nhà nước ta vẫn đang nỗ lực không ngừng vì một đất nước Việt Nam phát triển, một đất nước đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chân lý: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, luôn là nhân tố tiên phong cho sự phát triển của đất nước.

Hàng năm, chúng ta tổ chức nhiều cuộc thi tài năng, tạo cơ hội cho các em thể hiện năng khiếu và phát triển bản thân như: cuộc thi sáng tạo robocon, cuộc thi toán quốc tế, chương trình Đường lên đỉnh Olympia.... Nhà nước luôn chú trọng bồi dưỡng, phát triển tài năng và đầu tư trong giáo dục.

Nhưng cùng với quá trình đi lên này, vẫn còn rất nhiều nhân tài đã ra nước ngoài học tập, sinh sống và không trở về quê hương. Họ được đất nước tạo điều kiện nâng cao năng lực, đi du học nhưng khi ở môi trường tốt lại không còn muốn trở về quê hương cống hiến.

Cho dù thế giới ngày nay và trong tương lai có phức tạp đến đâu thì người tài vẫn là nhân tố quan trọng trong hoàn cảnh đó. Vì vậy, mỗi chúng ta cần không ngừng học tập, trau dồi, nâng cao hiểu biết của bản thân để trở thành những người có ích cho xã hội, đưa đất nước đi lên, ngày càng giàu mạnh.

2.2. Bài mẫu 2- Những bài phân tích Hiền tài là nguyên khí của quốc gia hay nhất:

Thân Nhân Trung là một vị quan nổi tiếng trong triều về đức độ, tài năng và là một người thầy mẫu mực đương thời. Ông đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ, trong đó tác phẩm “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” là một tác phẩm tiêu biểu. Nó không chỉ dừng lại trong xã hội thời Lê sơ mà còn có giá trị đối với chúng ta khi trong xã hội ngày nay giáo dục đã trở thành quốc sách hàng đầu.

Tác phẩm đã nêu lên ý nghĩa, mục đích của việc dựng bia tiến sĩ. Muốn cho đất nước thái bình, việc đầu tiên phải làm là tôn vinh hiền tài có công với nước, ghi công để khuyến khích, động viên họ.

Câu mở đầu của tác phẩm khiến ta càng cảm phục tài năng và sự khéo léo trong lối hành văn của ông “Dù nông cạn vụng về cũng không dám từ chối Cung kính chắp tay cúi đầu làm bài” thể hiện sự khiêm tốn của tác giả.  Sau đó, ông khẳng định tầm quan trọng của nhà hiền triết đối với sự suy vong của đất nước. Những câu văn có kết cấu mạch lạc, logic rõ ràng bắt đầu được trình bày một cách thuyết phục: “Hiền nhân là gốc của nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu”. Tác giả nói đến các bậc hiền nhân là nói đến những con người có phẩm chất hào hiệp. Hiền tài là nguyên khí, tức là những người có học vấn và đạo đức cao sẽ làm nên vận mệnh của đất nước. Người hiền tài có vai trò quyết định sự thịnh suy của đất nước. Hiền là quốc thịnh, hiền là quốc suy, hiền là tinh hoa của trời đất, của dân tộc.

Sau đó, ông nói rằng coi việc đào tạo nhân tài là rất quan trọng. "Cho nên, Thánh Hoàng nhất định không thể không đào tạo nhân tài, tuyển đệ tử làm việc trước." Rồi để rõ hơn, ông viết: “Danh tiếng, đoạt vinh, bố thí nhiều mà không đủ, tháp danh tiếng Pháp Nhãn đã bố thí”.  Sau mỗi kỳ thi, "triều đình khen ngợi người hiền tài đến bậc cao". Với lối viết cô đọng, tác giả đã nhấn mạnh vai trò của bậc hiền nhân. Qua mỗi kỳ thi, "triều đình ca ngợi người tài mà sự đãi ngộ, kính trọng của triều đình đối với người hiền tài ấy vẫn còn đó" chưa đủ so với sự quan tâm, cống hiến của người hiền tài cho đất nước, để tên tuổi, danh hiệu người hiền tài được lưu truyền cho muôn đời sau, đồng thời để xứng đáng với công lao của người hiền tài đã cống hiến cho đất nước. Trọng dụng người tài, ra sức phò vua giúp nước, dựng núi sông mở mang bờ cõi. Việc tốt một thời lừng lẫy, nhưng danh tiếng đã không đủ để lưu mỹ nhân lâu nên dựng một tấm bia trước cửa nhà triết gia dụ dỗ binh lính Vậy trách nhiệm của người lính là gì?

Thân Nhân Trung tiếp tục ca ngợi các bậc hiền nhân “Mấy chục năm nay có người đem văn chương, chính trị tô đẹp cảnh thái bình, thu phục lòng dân tộc”, bên cạnh đó tác giả cũng đưa ra lời khuyên với bọn gian tham, hại nước “không có bọn tham nhũng đứng hàng xấu để nhận hối lộ”. Và ông tiếp tục khẳng định lại một lần nữa tầm quan trọng của việc khắc bia mộ. "Có lẽ là bởi vì bọn họ cả đời chưa từng nhìn thấy tấm bia này, cho nên khi tận mắt nhìn thấy, thiện ý tràn ngập, ác ý không ngừng, mới dám làm ra chuyện như vậy." Việc khắc bia mộ mang lại rất nhiều lợi ích “kẻ ác lấy đó làm răn, người lương thiện xem quá khứ chỉ đường tương lai, rèn danh nhân”. Chẳng qua là để củng cố huyết thống của dân tộc mà thôi.” Với cách nói tương phản, giọng điệu trang nghiêm, cách nói rõ ràng, dễ hiểu, có thể thấy tác dụng to lớn của việc khắc bia mộ người tài ở nước ta. Hiền tài quốc gia không nhiều nhưng cũng không hiếm, nhưng để họ trở thành hiền tài thì triều đình và đất nước cần có những chính sách hiệu quả, tấm bia sẽ là lời nhắc nhở để những bậc hiền tài phải có ý thức và trách nhiệm với sự thịnh suy của thiên hạ quốc gia.

Đọc tác phẩm “Hiền tài là cội nguồn của quốc gia”, chúng ta càng hiểu hơn về văn hiến của dân tộc, tầm quan trọng của việc trọng dụng nhân tài và ý nghĩa to lớn của việc lập bia tiến sĩ.

Kết cấu ở cuối đoạn trích có sự tương ứng, vế trước làm tiền đề cho vế sau vì tác giả khẳng định vai trò của hiền nhân, “Hiền nhân là cội nguồn nguyên khí của quốc gia” khẳng định vai trò rất quan trọng của một bậc hiền nhân mà muôn đời không thay đổi, phần dưới đây Thân Nhân Trung sẽ chỉ ra ý nghĩa sâu sắc của việc khắc bia mộ Tiến sĩ bằng những lập luận hùng hồn, đối lập, nghệ thuật liệt kê có hàm ý lay động lòng người, khiến người tài ra sức xây dựng nền đất nước hơn nữa. Bên cạnh đó, tác phẩm không chỉ nhấn mạnh tầm quan trọng của hiền nhân thời Lê sơ mà trong mọi thời đại, hiền nhân luôn giữ vai trò quan trọng “hòa khí thịnh thì thế nước mạnh, thế nước thịnh thì thế nước là mạnh”.

Cuối cùng, tác phẩm muốn nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc đỗ tiến sĩ, vừa để tạo danh tiếng cho người tài, giữ họ trung thành với đất nước, đồng thời để răn dạy những kẻ có ý đồ xấu biết làm thế nào. Vì vậy, việc lập bia đá là rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn.

Bài viết của Thân Nhân Trung như một hồi chuông cảnh tỉnh lòng yêu nước và khát vọng cống hiến cho đất nước của những bậc hiền tài. Đây không chỉ là bài học về xây dựng dân giàu nước mạnh trong xã hội thời Lê mà còn là bài học cho thời nay khi coi giáo dục là quốc sách hàng đầu.

3. Bài phân tích Hiền tài là nguyên khí của quốc gia đạt điểm cao nhất:

Bài “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” trích trong bài kí đề danh tiến sĩ thứ 3  năm Nhâm Tuất (1442) do Thân Nhân Trung biên soạn năm 1484 thời Hồng Đức. Dòng chữ này khắc trên đá, hiện còn ở Văn Miếu (Hà Nội).

Thân Nhân Trung tự là Hầu Phủ, quê ở Yên Dũng, Bắc Giang, đỗ tiến sĩ, làm quan dưới thời Hồng Đức, có tài văn chương xuất chúng, trọng tài cao, từng được vua Lê Thánh Tông tin dùng, sắc phong làm quan. “Câu mở đầu cho ta biết Thân Nhân Trung được vua Lê Thánh Tông giao trọng trách lớn.

"Tôi dẫu nông cạn, vụng về, nhưng đâu dám từ chối, xin kính cẩn chắp tay cúi đầu mà làm bài kí rằng …".

Các tiến sĩ được khắc tên trên bia đá tại Văn Miếu đều là những người có tài, có học, có tài và có đức. Tác giả coi “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” và khẳng định nguyên khí này có ý nghĩa quan trọng đối với sự hưng thịnh của đất nước. Lập luận của tác giả rất chặt chẽ và thuyết phục:

"Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp".

Câu văn đẹp, ý sâu xa, ngôn từ tao nhã, kinh điển của văn học cổ được vận dụng khéo léo. Từ xa xưa, câu này đã được nhiều sử gia nhắc lại, nhiều người thuộc lòng và truyền lại. Càng đọc, càng ngẫm, càng thấy hiền tài như hoa mùa xuân, đất nước hưng thịnh, khi "tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu".

Tiếp đó, Thân Nhân Trung nói về việc coi trọng đào tạo nhân tài là chính sách hàng đầu và được đặc biệt quan tâm: “Vì vậy, khi Thánh Minh Vương chọn họ, không một ai không lấy việc luyện nhân tài, học sĩ, tu thân”. Với tư cách là người đứng đầu tòa án. Từ năm 1439 trở đi, các bậc nho sĩ có nhiều ưu đãi, trọng dụng, đó là “có tên tháp Nhạn, ban Long Hồ, đặt Văn Chủng”, sau mỗi kỳ thi đều chọn được nhiều\ tiến sĩ, trạng nguyên."Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất" là những việc như đặt lệ đặt tên, ban sắc, cấp mũ, đãi tổ tiên cho những người đỗ đạt cao.

Điều đó vẫn chưa đủ nên vua Lê Thánh Tông đã cho khắc tên các tiến sĩ vào bia đá đặt ở cửa Hiền Quan (Quốc Tử Giám) với mục đích “để cho kẻ sĩ nhìn vào mà động lòng kính phục”, "làm việc thiện, cố gắng ủng hộ nhà vua". Ý nghĩa sâu xa của việc “lập bia ở cửa Hiền Quan” thể hiện việc đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, ươm mầm nguyên khí quốc gia mà ông cha ta đặc biệt coi trọng, chứ không phải “có văn mà yêu văn”. 

Cuối bài, tác giả nói về lợi ích và tác dụng to lớn của việc dựng bia ở Văn Miếu: “Kẻ ác lấy đó làm răn, người lương thiện theo đó phấn đấu, quy về quá khứ, hướng về tương lai vừa để tạo dựng tên tuổi, vừa để củng cố mạch máu dân tộc.” Với lập luận sắc bén, lập luận chặt chẽ, lập luận mạch lạc, văn xuôi trang trọng, càng đọc chúng ta càng thấy ý nghĩa tốt đẹp của việc tổ tiên dựng bia ghi danh Tiến sĩ.

Trong “Bình Ngô Đại Cáo”, Nguyễn Trãi tự hào viết:

"Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến từ lâu".

Đọc bài “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” ta hiểu sâu sắc hơn nền văn hiến của dân tộc. Đó chính là “bồi dưỡng hiền tài, chọn nhà khoa bảng”. Bài học lịch sử được rút ra từ bia ký. Giáo dục là quốc sách, coi trọng đào tạo nhân tài, tôn vinh học giả phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    5 / 5 ( 1 bình chọn )