Bài văn phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu hay, ngắn gọn

Giới thiệu về nhà thơ Tố Hữu? Giới thiệu về bài thơ Việt Bắc? Dàn ý phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu? Bài văn phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu? Các đề bài khác?

Thơ Tố Hữu giàu tính thời sự, gắn bó với những biến động của đất nước, phản ánh kịp thời những sự kiện chính trị trọng đại và tiêu biểu có thể kể đến bài thơ Việt Bắc. Dưới đây là bài viết tham khảo về Bài văn phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu hay, ngắn gọn mời bạn đọc theo dõi.

1. Giới thiệu về nhà thơ Tố Hữu:

Nhà thơ Tố Hữu tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, bí danh là Lành, sinh ngày 4 tháng 10 năm 1920 trong một gia đình có truyền thống cách mạng tại xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông là nhà thơ lớn đã truyền cảm hứng và dẫn dắt nền văn học cách mạng Việt Nam. Ở Tố Hữu có sự hài hoà giữa đời cách mạng và đời thơ. Thơ Tố Hữu mới, hiện đại, gửi gắm những tình cảm lớn lao của con người Việt Nam trong lịch sử phát triển của Đảng và Dân tộc Việt Nam.

Tố Hữu tham gia cách mạng từ rất sớm. Khi còn là sinh viên, ông đã hoạt động cách mạng ở Thừa Thiên Huế. Năm 1938, 18 tuổi, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự kiện này là một bước ngoặt trong cuộc đời anh. Từ một người thanh niên bình thường trở thành một chiến sĩ cách mạng - con đường của người cộng sản tích cực và trung kiên bắt đầu từ bài thơ "Từ ấy". Ông là một nhà chính trị năng nổ, một nhà lãnh đạo ưu tú của Đảng Cộng sản Việt Nam trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng, xây dựng và phát triển đất nước.

Là một người kiên định, tài năng và giàu lòng yêu nước, Tố Hữu đã đảm nhiệm nhiều vị trí lãnh đạo chủ chốt trong nhà nước Việt Nam như: Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền; Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; Bí thư Trung ương... Ông đã được Đảng và Chính phủ Việt Nam tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huy hiệu 60 năm Đảng viên, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật.

Thơ Tố Hữu giàu tính thời sự, gắn bó với những biến động của đất nước, phản ánh kịp thời những sự kiện chính trị trọng đại. Như Tố Hữu đã ghi lại Khoảnh khắc Bác Hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình lịch sử rất chân thực trong những vần thơ trong bài thơ “Từ ấy”.

 “Quyết thắng là của ta” là bài thơ của Tố Hữu để kết thúc chặng đường trường kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ, từ đó nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, thống nhất phát triển bền vững.

Các tập thơ nổi tiếng của ông như: “Từ ấy”, “Ra trận”, “Máu và hoa”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Bài ca mùa xuân 1961”,

2. Giới thiệu về bài thơ Việt Bắc:

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, tháng 10/1954, Trung ương và Bác Hồ rời chiến khu Việt Bắc về tiếp quản Thủ đô. Trong giờ phút chia tay, Tố Hữu đã gửi gắm niềm xúc động trong bài thơ nổi tiếng “Việt Bắc”.

Bài thơ “Việt Bắc” là một hình ảnh vô cùng thơ mộng của núi rừng Tây Bắc, là cách nói lên lòng biết ơn, thủy chung, tình cảm giữa người ra đi và người ở lại.

3. Dàn ý phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu:

Mở bài:

Giới thiệu về tác giả và tác phẩm

Thân bài:

Cảm giác bùi ngùi, xót xa trước cảnh chia tay:

– Đại từ “ai” –thường gặp trong ca dao, dân ca, được Tố Hữu sử dụng khóe, gợi một cõi mơ hồ, mông lung, mơ hồ.

– Từ láy “xót xa”, “băn khoăn” thể hiện trực tiếp làn sóng trong lòng tác giả, làn sóng nhớ thương dâng tràn của người ra đi.

– Hình ảnh “nắm tay nhau biết nói gì hôm nay” để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng đọc giả, gợi lên chút gì đó bùi ngùi và cả xúc động.

Nỗi nhung nhớ cảnh vật thiên nhiên và những con người trên vùng đất Việt Bắc:

– Người lính khi ra đi nhớ da diết  về cảnh sắc thiên nhiên và những kỉ niệm, những ngày tháng đầy khó khăn, thiếu thốn ở Việt Bắc.

+ Nhớ những cảnh thiên nhiên dân dã bình dị mà thấm đượm tình người, với là hình ảnh vầng trăng lên, ánh nắng chiều, khói bếp lửa và nhớ những địa danh nghe tên sao mà thân thương gắn bó ở nơi đây.

+ Nhớ những ngày tháng cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, hình ảnh những người mẹ Việt Nam cần cù, ân cần bao dung địu con ra đồng, hay là hình ảnh những lớp học trong đêm…

– Nhớ hình tứ bình và nhớ cảnh “hoa có người”

+ Bức tranh mùa đông lạnh giá: trên nền xanh thăm thẳm ấy, lại điểm xuyết màu đỏ của hoa chuối rừng cùng với đó là hình ảnh con người với tư thế mạnh mẽ “giắt dao” – con người hiên ngang làm chủ thiên nhiên, đang làm việc chăm chỉ

+ Bức tranh mùa xuân: ngập tràn sắc trắng của bông hoa mai và bóng dáng con người tỉ mỉ, cẩn thận, khéo léo với công việc âm thầm “rải từng sợi nước cho non sông”.

+ Bức tranh mùa hè: trong tiếng ve kêu như gọi cả khu rừng chuyển sắc sang màu vàng để đón hè và “cô gái hái măng” xuất hiện trên nền bức tranh thiên nhiên được gợi lên với vẻ đẹp của trẻ thơ. Người dân nơi đây thật khoan dung, cần cù, chăm chỉ.

+ Bức tranh mùa thu: với “ánh trăng thanh bình” cùng khúc hát “trao duyên” với bao tình cảm của người dân nơi đây.

– Nhớ những năm tháng chiến đấu bất khuất, cùng nhau đánh giặc: ngày đêm hành quân, “đêm đêm rền vang như đất rung”. Cùng với đó những đoàn quân “trùng điệp” và những đoàn dân “giận chân tàn lửa”.

– Nhớ về Việt Bắc với niềm tin quyết thắng và sự tự hào về Trung ương Đảng, Bác Hồ.

Kết bài: Khẳng định lại giá trị của bài thơ và nêu cảm nghĩ cá nhân

4. Bài văn phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu:

Tố Hữu không chỉ là nhà cách mạng mà ông còn là một trong những nhà thơ xuất sắc, tiêu biểu của nền văn học Việt Nam. Với chất thơ tình cảm nhẹ nhàng, luôn có sự kết hợp hài hòa giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, sáng tác của ông luôn thống nhất, song hành với con đường cách mạng và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Ra đời tháng 10 năm 1954, nhân sự kiện Trung ương Đảng và Chính phủ rời Việt Bắc về Hà Nội, bài thơ “Việt Bắc” là một trong những bài thơ tiêu biểu của thơ Tố Hữu. Đọc bài thơ, người đọc sẽ bùi ngùi, xúc động trước tình cảm của người đã khuất đối với mảnh đất này.

Trước hết, những câu thơ mở đầu của bài thơ đã mở ra một khung cảnh chia tay đầy lưu luyến, đó là câu hỏi của người ở lại “Mình về mình có nhớ ta” đã có biết bao cảm xúc và kỉ niệm trong quãng thời gian “mười lăm năm” ấy. Để rồi qua đó bộc lộ rõ nét nỗi buồn, sự lo lắng, lưu luyến của người ra đi.

“Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Chỉ với bốn câu thơ, có lẽ cũng đủ nói lên cảm xúc của người ra đi trong giờ phút chia tay. Đại từ “ai” – một đại từ quen thuộc trong ca dao, dân ca được tác giả khéo léo đưa vào sử dụng, nó gợi ra một cõi mơ hồ, mông lung, mờ ảo trong nỗi nhớ của người đã khuất. Ngoài ra, tác giả đã sử dụng các từ “Bâng khuâng”, “tha thiết” để diễn tả trực tiếp làn sóng lòng, làn sóng trào dâng nỗi nhớ của người ra đi. Đặc biệt, hình ảnh “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” có lẽ đã thực sự để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Có gì đó buồn, có ngập ngừng và cả sự xúc động, cảm xúc trong khoảnh khắc đó khiến người ta không nói nên lời, không biết bắt đầu từ đâu để có thể bày tỏ cảm xúc của mình. Tất cả, tất cả những hành động ấy chỉ có thể giải thích bằng tình cảm gắn bó thiết tha của người ra đi và người ở lại trong suốt mười lăm năm. Mười lăm năm ấy là mười lăm năm tình bạn, mười lăm năm “tình ta trước sau như một”. Quãng thời gian ấy đủ dài, đủ lưu luyến để lúc chia tay người ta thấy nặng lòng, thấy vương vấn, xao xuyến và lưu luyến.

Nhưng có lẽ không chỉ dừng lại ở cảm xúc đó, người ra đi còn có cả nỗi nhớ - một nỗi nhớ khắc khoải, da diết, một nỗi nhớ da diết như “nhớ người yêu”. Đầu tiên, người ra đi nhớ lại những kỷ niệm, những tháng ngày đầy khó khăn, gian khổ và thiếu thốn.

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.

Ta đi, ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi...

Nhớ về Việt Bắc, người ra đi nhớ về những cảnh thiên nhiên bình dị mà ấm áp tình người, đó là hình ảnh vầng trăng lên, hình ảnh nắng chiều và hình ảnh ngọn lửa bập bùng mỗi đêm. Hình ảnh ngọn lửa ấy dường như đã thắp lên trong trái tim mỗi người hơi ấm của tình yêu thương và sức mạnh chiến đấu. Cùng với đó, là nỗi nhớ về tất cả những khung cảnh từng rừng tre– nơi người ra đi đã gắn bó lâu dài. Ngoài ra, nhớ về Việt Bắc, người ra đi còn nhớ những tháng ngày lưu luyến, nhớ những lúc chia ngọt sẻ bùi mà người ra đi và người ở lại chia sẻ, cùng nhau vượt qua.

Nhớ chiến khu Việt Bắc sao không nhớ những ngày ta chung chăn, sẻ nửa bát cơm, nhớ hình ảnh những người mẹ Việt Nam cần cù, chịu thương chịu khó địu con ra đồng, hình ảnh những lớp học buổi tối và cả những khó khăn trong công việc. Với biện pháp liệt kê, lặp lại nhiều lần từ “nhớ”, ở đầu mỗi cặp câu lục bát, tác giả Tố Hữu dường như đã cho người đọc thấy được nỗi nhớ da diết, cháy bỏng của người đã ra đi.

Đặc biệt, nhớ về Việt Bắc, người ra đi vẫn nhớ đến bức tranh tứ bình, nhớ đến những “những hoa cùng người” như nét độc đáo của thiên nhiên và con người nơi đây. Mở đầu bức tranh đó là cảnh mùa đông.

Bằng phương pháp miêu tả, chỉ với một từ “xanh” nhưng dường như cũng đủ để tác giả vẽ nên một màu xanh bao la, bát ngát đang bao trùm khắp núi rừng Tây Bắc. Rồi trên cái nền xanh thẳm ấy điểm xuyết màu đỏ của hoa chuối rừng. Màu đỏ ấy làm cho bức tranh thêm sinh động, ấm áp và tràn đầy sức sống, tươi sáng hơn. Ngoài ra, trên cái nền của thiên nhiên, hình ảnh con người hiện lên với tư thế “dao gài thắt lưng” – con người đang làm chủ thiên nhiên, làm chủ trời đất. Bức tranh mùa xuân tràn ngập sắc trắng của hoa mơ cũng là nét đặc trưng của thiên nhiên Tây Bắc mỗi độ xuân về. Trên cái nền thiên nhiên ấy, hình ảnh con người hiện lên một cách tỉ mỉ, cẩn thận và khéo léo với công việc thầm lặng “chuốt từng sợi giang”. Nếu bức tranh mùa đông và mùa xuân được miêu tả bằng những hình ảnh, màu sắc thì bức tranh mùa hạ cũng được miêu tả bằng âm thanh sống động của nó. Tiếng ve kêu – thứ âm thanh đặc trưng mỗi độ hè về dường như đã làm cả khu rừng chuyển sang hè, khoác lên mình chiếc áo vàng, làm cho mùa hè thêm rực rỡ. Để rồi, hình ảnh “cô em gái hái măng” một mình hiện lên trên cái nền thiên nhiên ấy đã gợi lên vẻ đẹp của những con người nơi đây chịu thương, chịu khó và rất cần cù. Khép lại bức tranh là vẻ đẹp của mùa thu với “trăng rọi hoà bình” và khúc hát “ân tình thuỷ chung” với bao tâm tư, tình cảm của người dân nơi đây. Như vậy có thể thấy, người ra đi nhớ đến bức tranh tứ bình với vẻ đẹp độc đáo, hài hòa giữa thiên nhiên và con người Việt Bắc.

Không dừng lại ở đó, trong lòng người ra đi còn nhớ về những năm tháng chiến đấu anh dũng, nhớ về những ngày cùng nhau đánh giặc. Nhớ Việt Bắc là nhớ những cuộc hành quân suốt ngày đêm. Là nhớ đến những đoàn quân “điệp điệp trùng trùng” và những đoàn dân “Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay. Có thể thấy, với giọng điệu hào hùng, nhịp thơ nhanh, mạnh đã miêu tả rõ nét bức tranh chiến đấu oai hùng, hào hùng của quân và dân ta với niềm vui và khí thế chiến đấu tràn trề. Tình cảm cuối cùng của người ra đi được thể hiện trong đoạn trích Nhớ về Việt Bắc niềm tin và lòng ngợi ca, tự hào đối với Trung ương Đảng, Bác Hồ.

Tóm lại, bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu với nhịp điệu nhẹ nhàng, ngôn ngữ giản dị, đậm sắc thái dân gian và thể thơ lục bát quen thuộc của dân tộc đã thể hiện chân thực và sâu sắc tình cảm của người dân Việt Bắc. cung bậc tình cảm, cảm xúc của người lính với thiên nhiên, con người Việt Bắc.

5. Các đề bài khác:

Đề bài số 1: Từ bài thơ Việt Bắc đã học, em hãy Phân tích tình cảm của người ra đi trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu để thấy được tình cảm sâu nặng , tình nghĩa giữa những người cán bộ trở về và nhân dân chiến khu .

Đề bài 2: Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

 

    5 / 5 ( 1 bình chọn )