Mẫu Ỷ La là ai? Đền Mẫu Ỷ La ở đâu? Lễ hội đền Mẫu Ỷ La?

Lịch sử của dân tộc ta có nhiều nhân vật nữ vĩ đại trong đó tiêu biểu là Ỷ Lan, đệ nhất phi tần (Nguyên phi), sống vào thế kỷ XII. Dưới đây là bài viết tham khảo về Mẫu Ỷ La là ai? Đền Mẫu Ỷ La ở đâu? Lễ hội đền Mẫu Ỷ La?

1. Mẫu Ỷ La là ai?

Tín ngưỡng thờ Mẫu (Thổ Hiện) vật linh và đồng nhất là một bộ phận tín ngưỡng dân gian bản địa lâu đời nhất của cả nước. Tất cả các vị thần, thánh Cô trong văn hóa tín ngưỡng này đều là những linh hồn siêu phàm, ngoại trừ Hoàng hậu Y Lan. Ỷ Lan, tên có nghĩa là "Người phụ nữ dựa vào hoa lan", là một nhân vật lịch sử được người dân phong thánh.

Ỷ Lan không phải là một nhân vật huyền thoại, mà là một nhân vật lịch sử. Tên thật là Lê Thị Yên. Bà sinh ra ở làng Thổ Lỗi xưa, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Cô mất mẹ năm mười hai tuổi. Cha của bà là một nông dân, đã tái hôn. 

Sử cũ chép rằng, vua Lý Thánh Tông đã bốn mươi tuổi mà chưa có con trai nối ngôi, đã hành hương đến chùa Dâu ở Dương Xá để cầu Phật ban cho mình một người con trai. Khi đi dạo ở vùng nông thôn, nhà vua nhìn thấy trên cánh đồng dâu tằm, một cô gái trẻ xinh xắn đang dựa vào cây mộc lan. Nhà vua đi về phía, tiếp cận và trò chuyện với cô ấy. Không hề sợ hãi, cô ấy trả lời tất cả các câu hỏi của nhà vua một cách bình tĩnh và thông minh. Do say mê tài năng và nhan sắc của nàng, vua rước Lê Thị Yên vào triều, phong cho nàng là “Ỷ Lan đệ nhất phi” (Ỷ Lan nghĩa là người dựa vào cây mộc lan).

Khác xa với các nữ nhân khác với mối quan tâm chính của Ỷ Lan là quan tâm đến các vấn đề quốc gia và đời sống xã hội. Nàng Ỷ Lan cống hiến hết mình để đọc, nghiên cứu và làm quen với các vấn đề liên quan đến con người, đến nỗi chỉ trong một thời gian ngắn, cô ấy đã khiến Nhà vua phải kinh ngạc về học ​​thức của mình. Ngày 25 tháng giêng năm 1066, Ỷ Lan hạ sinh Lý Càn Đức , con đầu lòng của Lý Thánh Tông. Ngay sau khi sinh ra, Lý Càn Đức được phong làm Thái tử nhà Lý còn Phu nhân Ỷ Lan được phong làm Hoàng quý phi (Nguyên phi hay Thần phi).

Không có gì đáng ngạc nhiên khi vào năm 1069, nhà vua khi đi viễn chinh để đang tiến hành cuộc chiến tranh chống lại quân Chăm Pa hung hãn, đã giao cho bà quyền nhiếp chính. Và cũng chính là thời gian này, đất nước đã trải qua nhiều thiên tại khó khắn lũ lụt kèm theo tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng và nhiều bất ổn xã hội. Lo lắng trước tình hình nội bộ, nhà vua giao quyền chỉ huy quân viễn chinh cho tướng Lý Thường Kiệt vội vã trở về kinh đô. Trên đường đi, nhà vua biết rằng thông qua một chính sách táo bạo và phù hợp của nàng Ý Lan đã thành công trong việc khắc phục tình trạng khan hiếm và lập lại trật tự trị an. Người đời rất biết ơn đã đặt biệt danh cho Ý Lan là “Bồ tát Quan Âm”, lập đền thờ bà. Yên tâm và được khích lệ bởi tấm gương của Nàng Ỷ Lan này, ông đã quay trở lại, trở lại biên giới để tiếp tục cuộc chiến cho đến khi giành được thắng lợi cuối cùng.

Năm 1072, khi Lý Thánh Tông băng hà, đẩy đất nước vào một cuộc khủng hoảng mới. Một lần nữa, Ỷ Lan, người đã trở thành Hoàng hậu- Nhiếp chính, nắm quyền điều hành với sự thuần thục hiếm có. Điều này cho phép vị tướng dũng cảm Lý Thường Kiệt chiến thắng cuộc xâm lược của nhà Tống.

Nhiếp chính sau cái chết của chồng (con trai bà mới bảy tuổi), bà đã thực hiện những cải cách hiệu quả: chuộc những người phục nữ nghèo bị bán cho nhà giàu, phát triển văn hóa giáo dục. Bà cũng phò tá Lý Thường Kiệt (1019-1105) đánh đuổi quân giặc Trung Hoa xâm lược.

Bi kịch của cuộc đời Ỷ Lan là đã có một quyết định gây ra cái chết của chính hoàng hậu Thượng Đường và 72 phi tần. Tháng giêng năm 1072, Lý Thánh Tông băng hà, Thái tử Lý Càn Đức tức Lý Nhân Tông lên nối ngôi . Sau khi đăng quang, Lý Nhân Tông đã phong Thượng Dương hoàng hậu làm Hoàng thái hậu  còn mẹ ruột của ông là Ỷ Lan được phong làm Hoàng thái phi. Vì tân hoàng mới lên sáu tuổi nên Thượng Dương hoàng hậu nắm quyền nhiếp chính cho Lý Nhân Tông còn tể tướng Lý Đạo Thành nắm quyền trong triều.  Tức giận vì không có quyền nhiếp chính mặc dù là mẹ ruột của hoàng đế, Ỷ Lan đã tác động đến con trai mình để phế truất Thượng Dương Thái hậu, cuối cùng dẫn đến việc Thái hậu và 76 cung nữ bị giam cầm ở Thượng Dương cung điện. Về sau Thượng Dương Thái hậu cùng bầy tôi đều bị giết và chôn trong lăng Lê Thánh Tông. Là một Phật tử nhiệt thành, Nguyên phi Ỷ Lan đã sám hối trong suốt phần đời còn lại của mình bằng cách thực hiện các công việc từ thiện và xây dựng chùa chiền. 

2. Đền Mẫu Ỷ La ở đâu?

Nguyên phi Ỷ Lan được người dân kính trọng và lập đền thờ ở nhiều nơi. Trong số đó thì đền Mẫu Ỷ Lan ở Tuyên Quang là nổi tiếng linh thiêng nhất.

Đền Ỷ La thuộc phường Ỷ La, thành phố Tuyên Quang được xây dựng vào thời Nguyễn (thế kỷ XIX).

Đền Hạ, đền Thượng, đền Ỷ La là những công trình kiến ​​trúc cổ, vừa có giá trị cao về nghệ thuật kiến ​​trúc, vừa có giá trị văn hóa tâm linh; giá trị từ sự linh thiêng của Tín ngưỡng thờ Mẫu - một nét đẹp trong văn hóa tín ngưỡng của người Việt. Đền Hạ, Đền Thượng, Đền Ỷ La là 3 trong số 5 di tích của thành phố Tuyên Quang đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

3. Lễ hội đền Mẫu Ỷ La:

Lễ hội Đền Hạ, Đền Thượng, Đền Ỷ La cũng được Nhà nước công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Các nữ thần được thờ trong ba ngôi đền là nhân vật “Thánh”, là hạt nhân của lễ hội truyền thống được bảo tồn, gìn giữ và lưu truyền cho đến ngày nay. 

Sự hình thành đền Mẫu Ỷ La bắt nguồn từ đền Hạ, hai ngôi đền thờ công chúa Phương Dung hóa thân thành Mẫu Thượng Thiên. Trong quan niệm dân gian, đền Ỷ La là nơi “lánh nạn” của Thánh Mẫu, là nơi có địa thế linh thiêng che chở cho Thánh Mẫu, là nơi có khả năng trấn giữ điều lành nên Lễ hội Đền Thượng và Đền Hạ không tách rời khỏi lễ hội.

Lễ hội Đền Hạ, Đền Thượng, Đền Ỷ La là sự kiện để nhân dân tưởng nhớ, tri ân công đức của Thánh Mẫu đối với cộng đồng các dân tộc anh em sinh sống trên địa bàn. Đồng thời, lễ hội cũng là dịp để con người được giải tỏa, bày tỏ những buồn phiền, lo lắng với thần linh, mong được thần linh giúp đỡ, che chở để vượt qua khó khăn, vươn tới ngày mai tươi sáng. Đây là sản phẩm tinh thần được hình thành từ quá trình sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước gắn với việc cầu mưa thuận gió hòa, hoạt động trị thủy, chống bão lụt, khai hoang, lập làng tổ chức lao động sản xuất của người Việt.

Lễ hội rước Mẫu đền Hạ, đền Thượng, đền Ỷ La thành phố Tuyên Quang gắn liền với mảnh đất và con người nơi đây, là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, được nhân dân các dân tộc trên địa bàn hưởng ứng. Thành phố đã bảo tồn và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Lễ hội đã tồn tại và phát triển cho đến ngày nay và trở thành một nét văn hóa đặc sắc của người dân xứ Tuyên. Từ bao đời nay, lễ hội rước Mẫu ở Tuyên Quang đã gắn liền với làng quê, địa danh, vùng đất như một thành tố không thể thiếu trong đời sống cộng đồng các dân tộc ở thành phố Tuyên Quang.

4. Thời gian diễn ra Lễ hội đền Mẫu Ỷ La:

Từ năm 2007 đến nay, Lễ hội đền Hạ, đền Thượng, đền Ỷ La được tổ chức trùng tu vào dịp đầu Xuân hàng năm, từ ngày 11 đến ngày 16 tháng 2 âm lịch. Từ sáng sớm ngày 2 tháng 11 (Âm lịch), nhân dân và du khách thập phương đã tập trung tại đền Ỷ La để rước công chúa Phương Dung (chị gái của nàng) từ đền Ỷ La về đền Hạ. Rồi đến ngày 12 tháng 2 âm lịch, nhân dân lại làm lễ đón Ngọc Lân công chúa (em) từ đền Thượng về đền Hạ, hai nàng sẽ gặp nhau tại đền Hạ để thông gia. 

5. Một số nơi thờ Mẫu Ỷ Lan:

Có rất nhiều đền thờ Ỷ Lan ở miền Bắc Việt Nam, từ làng Siêu Loại của bà đến tỉnh miền núi Tuyên Quang , một con phố ở Gia Lâm gần nơi sinh của bà cũng được đặt tên để vinh danh Ỷ Lan. Hàng năm, nhân dân huyện Gia Lâm quê bà tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công lao của Ỷ Lan vào ngày 3 tháng 3 âm lịch. Một lễ hội lớn hơn để tưởng nhớ Ỷ Lan được tổ chức tại đền Ghềnh (Đền Ghềnh) ở huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên từ ngày 5 đến 16 tháng 3 âm lịch.

    5 / 5 ( 1 bình chọn )