Cảm nhận 8 câu đầu Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Chiến tranh đã gây nên bao đau thương mất mát cho người ở lại, nhất là những người phụ nũ mòn mỏi đợi chồng, móng ngóng tin tức trong vô vọng, sự bi thương này được tái hiện qua 8 câu đầu của bài thơ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.

1. Dàn ý cảm nhận 8 câu đầu Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ:

Mở bài: giới thiệu tác giả, tác phẩm

Thân bài:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?”

+ Căn phòng tưởng chừng rất rộng khi hai người cùng chung sống, nhưng lại trở nên tối tăm, chật chội khi chỉ có người vợ cô đơn, khắc khoải nhớ chồng.

+ Cảm giác chờ đợi người vợ tiễn chồng ra trận dường như đã đi qua bao kiếp người, nó bao trùm lên con người và tình cảm của kẻ chinh phụ một màu u tối.

+ Giọng thơ khoan thai, nhịp điệu chậm rãi khiến người đọc có cảm giác mình là nhân vật trữ tình. Hành động lặp đi lặp lại như nỗi nhớ đầy ắp “gieo từng bước” Động từ “gieo” có phải là ý tưởng của tác giả về một cuộc dạo chơi thê lương? 

Không gian tĩnh mịch khiến tiếng bước chân càng nặng nề, hiu quạnh. Ngày đêm cô vẫn nhớ chồng nơi miền biên ải xa xôi.

+ “Ngoài rèm thưa rủ thác đòi phen” – bức rèm kéo lên kéo xuống buồn bã, nhưng dù thế nào đi chăng nữa, trái tim cô vẫn chỉ có một hình ảnh, dù bên ngoài có xảy ra chuyện gì. Lần nữa.

+ Nhưng sự chờ đợi ấy không chứng tỏ được niềm vui, dường như đã lâu lắm rồi “chim thước ” mới dừng lại để thắp cho cô một chút hi vọng.

“Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”

+ Đó chính là sự cô đơn, lẻ loi của cô, cô rất cần một người có thể chia sẻ, đồng cảm với tâm trạng của mình lúc này.

+ Cô không có ai để tâm sự, để giải tỏa tâm trạng cô đơn, trong phòng chỉ có ngọn đèn.

+ Nhưng liệu ngọn đèn vô tâm có hiểu được tấm lòng chung thủy của nàng, nàng chỉ có thể chịu đựng nỗi đau cô đơn, đau đớn một mình. 

Kết bài: đánh giá lại giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật

2. Những bài cảm nhận 8 câu đầu Tình cảnh lẻ loi của Người chinh phụ hay nhất:

2.1. Bài mẫu 1 - Những bài cảm nhận 8 câu đầu Tình cảnh lẻ loi của Người chinh phụ hay nhất:

Dưới tài năng của dịch giả Đoàn Thị Điểm - người “tài hoa hiếm có”, kiệt tác thơ chữ Hán “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn một lần nữa lên ngôi. Vào những năm 40 của thế kỷ 14, khắp nơi nổi lên giông tố, cung tần đem thê thiếp ra trận được phục dựng dưới làn điệu dân ca "Lâm li, tuấn nhã", nhất là ở đoạn trích 8 câu đầu của bài thơ.

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”

Hai câu đầu của đoạn văn là bóng dáng khát khao chinh phục của kẻ chinh phục. Hình ảnh đó được thể hiện qua các động từ “dạo”, "rủ ”, “thác”, “gieo từng bước” bởi nó tạo nên sự tương phản giữa vẻ thanh bình, nhàn nhã bên ngoài với sự khắc khoải, mệt mỏi đếm từng bước chân. Hơn nữa, các tính từ “vắng”, “thưa” càng làm nổi bật vẻ lẻ loi, đơn chiếc của người thiếu nữ trong đêm. Như vậy, tác giả đã dùng ngoại cảnh để bộc lộ tâm trạng nhân vật.

Tiếp theo, kẻ chinh phục dường như nhìn ra bên ngoài để tìm kiếm một điểm tựa đủ mạnh để trấn an:

“Ngoài rèm thước chẳng mách tin”

Chim thước là loài chim lạ, thuộc về trời cao đất rộng. Chờ đợi tin tức từ người cai trị là vô vọng và mơ hồ. Từ phủ định “không” như một lời khẳng định về cái tuyệt đối không có âm thanh nào cả. Thế là, người thiếu phụ trở vào buồng trong, nói chuyện với ngọn đèn, tìm chút tình, cho vơi nỗi cô đơn:

“Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”

Câu thơ làm ta liên tưởng đến hình ảnh Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ khi chàng chọn cách chỉ vào cái bóng trên vách mà nói đó là cha của Đan để người con vơi đi nỗi nhớ. Đó dường như là cách người phụ nữ gửi gắm nỗi nhớ nhung cho chồng mình. Gửi lòng mình vào ngọn đèn, người chinh phụ trong bài thơ chắc cũng nhớ chồng. Vì phụ nữ gọi là “đèn” và tự xưng là “thiếp”. Mặt khác, hình ảnh ngọn đèn gợi cho ta nhớ đến câu ca dao xưa:

“Khăn thương nhớ ai,
Khăn chùi nước mắt.
Đèn thương nhớ ai,
Mà đèn không tắt.
Mắt thương nhớ ai,
Mắt ngủ không yên.”

Ánh đèn như tô điểm thêm cho khoảng lặng cô đơn chờ đợi suốt ngày và thổn thức suốt đêm dài. Nhưng ngọn đèn là vật vô tri vô giác, ngọn đèn không thể tâm sự cùng người phụ nữ nên nhân vật trữ tình lại càng “buồn” không nói nên lời. Cảnh tượng “không nói nên lời” ấy như bất lực, nghẹn ngào. Đoạn thơ còn xuất hiện thêm hình ảnh “đèn hoa” - “bóng người”. Thay cho ngọn đèn, tác giả nói “hoa đèn” để chỉ sự héo úa, cạn dầu, tương đương với cảnh người phụ nữ chờ héo mòn, tuổi xuân trôi qua từng ngày. Từ ngữ, ý thơ như thể hiện sự bất động. Đặc biệt, hình ảnh người phụ nữ bên cạnh ngọn đèn dầu vẫn đọng lại cảm giác “xót xa”. Nỗi buồn, sự cô đơn, lo lắng, nhớ nhung, bơ vơ, nghẹn ngào tất cả hòa quyện vào nhau, cuộn trào trong lời than thở “lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi” rồi nhạt nhòa trong "buồn rầu chẳng” và “khá thương”. Từ thương chồng đến thương mình, từ tủi thân đến tuyệt vọng.

Tóm lại, đoạn trích 8 câu đầu trong "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ" - Đoàn Thị Điểm là tiếng nói thương tiếc cho số phận người phụ nữ trong chiến tranh và đồng cảm với khát vọng đoàn tụ của họ. Cho đến lúc đó, lần đầu tiên có những trái tim chân chính có thể đồng cảm với những người phụ nữ nhỏ bé. Đó cũng chính là tinh thần nhân đạo, cao cả của tác giả.

2.2. Bài mẫu 2 - Những bài cảm nhận 8 câu đầu Tình cảnh lẻ loi của Người chinh phụ hay nhất:

"Chinh phụ ngâm khúc" bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn, một danh nhân hiếu học và tài hoa sống vào nửa đầu thế kỷ 18, là một kiệt tác trong văn học cổ điển Việt Nam - đã được chuyển thể thành tuyệt tác. Đoạn trích“Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” là sự thể hiện sâu sắc nhất cảm hứng nhân đạo và nghệ thuật miêu tả nghệ thuật ngụ ngôn của bài thơ “ chinh phụ ngâm”. Tám câu của đoạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”

Ngôi nhà và căn phòng giờ đây tối tăm và chật chội. Người vợ trẻ hình như đã đợi chồng từ lâu. Nàng luôn thấp thỏm chờ chồng, nỗi cô đơn bao trùm lấy nàng:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?”

Cô dường như quên hết mọi thứ xung quanh mình. Nỗi cô đơn, lo âu trong tâm trí len lỏi, gặm nhấm cô rồi hiện ra qua dáng người lang thang, như người mất hồn. Nhịp thơ chậm rãi gợi cảm giác thời gian như đứng lại. Giữa không gian vắng lặng, tiếng bước chân dường như gieo vào lòng người một cảm giác lẻ loi, cô đơn. Dáng vẻ ủ rũ, buồn chán, gầy guộc của cô khắc sâu vào lòng người nỗi đau bơ vơ, lạc lõng, đáng thương. Cô biết phải làm sao khi ngày trôi qua, đêm kết thúc trong nỗi nhớ nhung vô vọng. Lưỡng lự, tâm trạng bồn chồn, hạ rèm kéo rèm lên, một mình giữa đêm khuya.

Đã lâu rồi “bặt vô âm tín” không một lá thư, không người thân ra vào. Nội tâm nhân vật được miêu tả gần như trọn vẹn từ hình dáng bên ngoài đến nội tâm rối rắm. Câu trả lời cho sự khao khát của cô là sự im lặng, một sự im lặng ớn lạnh. Em không khóc, nhưng anh thấy hình như những giọt nước mắt chứa đầy nỗi buồn đã khô cạn, thấm vào nỗi buồn mênh mông không lối thoát.

“Sầu ôm nặng hãy chồng làm gối
Muộn chứa đầy hãy thổi thành cơm.”

Trong sự cô đơn và lẻ loi, người chinh phụ muốn có người đồng cảm và chia sẻ nỗi niềm của mình. Có ai phù hợp với cảnh chia tay buồn này không? Không ai! Cô một mình trong chiếc đồng hồ hoang vắng, người bạn duy nhất của cô là chiếc đèn vô tri vô giác. Phải chăng tác giả đã mang ánh sáng đến cho cô với hi vọng xua tan nỗi cô đơn trong đêm hay trái tim tan nát của cô? Vì vậy, thu hẹp nó xuống. Nhưng chúng ta còn thấy gì sau hình ảnh đó? Liệu ngọn đèn khuya với hình bóng lẻ loi của cô gái trong đội bảo vệ trường có xua tan được nỗi cô tịch của màn đêm? Hay buồn hơn trước hình ảnh đáng thương ấy. Ánh sáng là để thể hiện không gian rộng lớn và sự cô đơn của con người. Thủ pháp này khá phổ biến trong thơ cổ, có tính biểu cảm cao: “Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt”. Hình ảnh ngọn đèn ở đây được nhắc đến liên tiếp trong ba câu thơ. Nhìn ngọn đèn vừa cháy được năm giờ thì dầu đã cạn, bấc đã tắt, cô chợt nghĩ đến hoàn cảnh của mình mà rơi nước mắt tủi thân, ân hận. Cô thấy tiếc cho ngọn đèn và sau đó cô thấy tiếc cho trái tim của mình.

“Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”

Về nghệ thuật, với thể thơ bảy chữ, lục bát, cách dùng từ, hình ảnh ước lệ, bài thơ đã thể hiện một cách tinh tế những sắc thái cảm xúc khác nhau về nỗi cô đơn, buồn tủi của người chinh phụ khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. Về nội dung, đoạn trích còn thể hiện tình yêu thương, sự cảm thông sâu sắc của tác giả với khát vọng hạnh phúc chính đáng của kẻ chinh phu, cất lên tiếng kêu nhân đạo, phản kháng chiến tranh phong kiến bất công. Qua bài thơ ta cảm nhận được âm điệu hấp dẫn trong bài thơ, khả năng tuyệt vời của tiếng Việt trong lĩnh vực trữ tình. Đoạn thơ giàu giá trị nhân văn, thể hiện sâu sắc, cảm động lòng căm thù chiến tranh phong kiến và niềm khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi trong thời loạn lạc của xã hội cũ.

3. Bài cảm nhận 8 câu đầu Tình cảnh lẻ loi của Người chinh phụ đạt điểm cao nhất:

Đặng Trần Côn là một tác giả sống vào nửa đầu thế kỷ 18, tài năng văn chương của ông nổi tiếng với nhiều tác phẩm nổi tiếng, một trong số đó là “Chinh phụ ngâm” có giá trị hiện thực và nhân văn sâu sắc. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” được trích trong tác phẩm thể hiện nỗi nhớ chồng chinh chiến và khát vọng hạnh phúc của người chinh phụ. Đặc biệt qua 8 câu thơ đầu của đoạn văn, người đọc dễ dàng cảm nhận được sự trống vắng và tâm trạng của nhân vật trữ tình.

Mở đầu đoạn trích, tác giả đã miêu tả tâm trạng của người chinh phụ, qua các hành động:

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”

Đây là lời than thở triền miên, đau đớn của người phụ nữ có chồng ra trận. Tác giả sử dụng lối miêu tả nội tâm qua ngoại hình, hành động lặp đi lặp lại, vu vơ của người chinh phụ và dáng vẻ buồn bã, khắc khoải không lời, đợi chồng về. Thời gian đã khuya, không gian là một hiên vắng lặng với động tác “gieo từng bước” như khắc họa rõ nét cảm giác lẻ loi, cô đơn của người chinh phụ. Với khung cảnh như vậy gợi cho ta liên tưởng đến sự đoàn tụ, đầm ấm của gia đình nhưng giờ đây chỉ còn lại người phụ nữ cô đơn, lẻ loi giữa không gian trống trải, không có người chồng bên cạnh. Cảm giác trống vắng bủa vây lấy người chinh phụ khiến cô gieo những bước chân mệt mỏi và chậm chạp. Mỗi bước chân như chất chứa nỗi lòng, nỗi niềm của người phụ nữ xa chồng, mong ngóng từng ngày chồng trở về. Người phụ nữ thấy lòng mình thắt lại khi chỉ nghe tiếng bước chân khe khẽ của chính mình.

"Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen”

Hành động buông màn rồi cuốn lên nhiều lần là hành động lặp đi lặp lại không có mục đích rõ ràng, thể hiện tâm trạng tù túng, nóng nảy. Nỗi nhớ nhung, mong chờ sự an toàn của người chồng sắp đi chinh chiến nơi xa. Nỗi nhớ nhung cùng với tâm trạng chờ tin chồng dồn nén trong người vợ lẽ tạo nên cảm giác cô đơn, buồn tủi trong nhân vật trữ tình. Không chỉ vậy, người chinh phụ càng chờ đợi, cô càng không nhận được gì.

"Ngoài rèm thước chẳng mách tin”

“Chim thước” là loài chim báo tin vui, báo tin có người đi xa trở về. Nhưng giờ đây tiếng chim đã ngừng lại càng làm tăng thêm nỗi nhớ nhung xao xuyến trong lòng người chinh phụ. Con chim thước không nói với nàng, người chồng yêu thương vẫn chưa về, nỗi đau âm thầm mà dữ dội khiến nàng khao khát được đồng cảm. Nhưng trong cảnh buồn này chỉ có ánh đèn leo lét kết bạn với cô ấy.

"Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?”

Nỗi cô đơn bao trùm khiến nàng tự hỏi: Liệu ngọn đèn dầu mờ có soi thấu lòng nàng, liệu ngọn đèn có hiểu nỗi cô đơn và nỗi nhớ đè nặng lên nàng. Những câu hỏi tu từ giống với tâm trạng của người chinh phụ, những câu hỏi không có câu trả lời, nhân vật trữ tình hỏi ngọn đèn - một vật vô tri vô giác - nhưng dường như muốn gửi gắm tâm tư tình cảm của mình. Chính tiếng than thở của cô, niềm hy vọng, sự chờ đợi khắc khoải của cô đã biến thành nỗi đau.

Đèn có biết dường bằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”

Câu bắc cầu “đèn biết chăng– đèn có biết” thể hiện nỗi buồn xa xứ, tù túng của kẻ chinh phụ với một ngọn đèn, nhưng một vật vô tri vô giác như vậy làm sao hiểu được tâm tư của kẻ chinh phục. Nhân vật trữ tình ôm nỗi cô đơn, buồn tủi một mình. Nhìn ánh đèn lung linh trong đêm tĩnh mịch như vậy, lòng kẻ chinh phục càng thắt lại. Ngọn đèn là hình ảnh gợi cảm giác sum họp, đầm ấm, khắc sâu nỗi cô đơn, buồn tủi, xao xuyến trong lòng người.

"Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương”

Kết thúc tám câu thơ, hình ảnh “hoa đèn” khiến ta liên tưởng đến hình ảnh “đèn không tắt” trong ca dao:

"Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt?”

    5 / 5 ( 1 bình chọn )